PDA

View Full Version : Tái cấp vốn ......



an_dakmil
07-04-2010, 07:28 PM
TÁI CẤP VỐN

Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng thương mai và các tổ chức tín dụng bao gồm các hoạt động: chiết khấu, tái chiết khấu các chứng từ có giá, cho vay có đảm bảo bằng các chứng từ có giá.

+ chiết khấu, tái chiết khấu là việc nhtw mua các chứng từ có giá chưa đến hạn thanh toán của các NHTM, của các tổ chức tín dụng

II/ Mục tiêu:
+ Đáp ứng vốn kịp thời cho các NHTM
+ Điều tiết lượng tiền trong lưu thông phù hợp với mục tiêu.

Phân biệt lãi ssuất cơ bản, lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn

Lãi suất cơ bản là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ngắn hạn. Theo Luật Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cơ bản chỉ áp dụng cho Đồng Việt Nam, do Ngân hàng Nhà nước công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh. Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu hướng biến động cung-cầu vốn. Theo Luật Dân sự, các tổ chức tín dụng không được cho vay với lãi suất cao gấp rưỡi lãi suất cơ bản.
Lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn có hơi huớng giống nhau
Tuy nhiên lãi suất tái chiết khấu là lãi suất thực hiện trên cơ sở đối tượng là các giấy tờ có giá. VD: Hối phiếu, lệnh phiếu, Trái phiếu , ...Các ngân hàng sẽ chấp nhận trả tiền cho người cầm (hoặc sở hữu các giấy đó để đổi lại một khoản lời mà ta gọi là lãi suất chiết khấu và thu lại khoản tiền của họ đối với người thanh toán ghi trên đó khi đến hạn. Các ngân hàng này lại cần tiền nhưng các giấy tờ đó chưa đến hạn thanh toán họ bán lại các khoản sẽ thu này cho NH TW để đổi lấy tiền mặt và bớt lại cho NHTW một khoản, ta gọi đó là lãi suất tái chiết khấu.
Lãi suất tái cấp vốn cũng gần giống như vậy nhưng đối tượng ở đây là các khoản cho vay của các NH TM, và sau đó họ bán lại các khoản này co NH TW để đổi lấy lương tiền mặt.
Các lãi suất này khác nhau tùy vào loại chứng từ đem ra chiết khấu, vào các khoản vay của NH, vào từng thời điểm theo chính sách tiền tệ của NHTW theo sự lèo lái của chính phủ mỗi quốc gia....
III/ Hình thức tái cấp vốn
1/ Tái chiết khấu là việc ngân hàng thương mại hoặc ngân hàng trung ương thực hiện việc mua lại các giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán và đáng tin cậy thuộc sở hữu của các ngân hàng khác theo tỉ suất tái chiết khấu nhất định. Các giấy tờ có giá này đã được các ngân hàng chiết khấu, tái chiết khấu trên thị trường thứ cấp.
Quy trình như sau:
Thường trong các giao dịch tín dụng thương mại, mối quan hệ "nợ nần" giữa người mua và người bán được cam kết thông qua việc phát hành thương phiếu và các giấy tờ có giá khác. Thương phiếu gồm hối phiếu (lệnh đòi tiền do người bán ký phát cho người mua yêu cầu trả tiền) và lệnh phiếu (do người mua ký phát cam kết trả tiền cho người bán) và có thể được đem đi chiết khấu tại ngân hàng. Tuỳ vào giá trị và mức độ tin cậy của giao dịch mà ngân hàng thương mại chấp nhận chiết khấu thương phiếu đó theo tỉ suất nhất định. Ngân hàng thương mại cũng có thể đem các giấy tờ có giá đó tái chiết khấu tại các ngân hàng thương mại khác hoặc ngân hàng Trung ương theo tỉ suất tái chiết khấu khác.
Thông thường việc quy định tỉ suất tái chiết khấu từ phía ngân hàng Trung ương cao hay thấp hơn tỉ suất thị trường đều có ảnh hưởng tới lượng cung tiền tệ trong lưu thông.
2/ Hình thức tái cấp vốn:
aTái chiết khấu các chứng từ có giá:
Tái chiết khấu là việc NHTW thực hiện việc mua lại các giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán, thuộc sở hữu của các ngân hàng. Các giấy tờ có giá ngắn hạn này đã được các ngân hàng chiết khấu trên thị trường thứ cấp. Tái chiết khấu có thể được coi là hình thức tín dụng có đảm bảo, trong đó các TCTD sử dụng các giấy tờ có giá đủ điều kiện cầm cố để bảo đảm cho tiền vay tại NHTW.
Với bản chất của loại cho vay dưới hình thức chiết khấu chứng từ có giá, đây là loại cho vay có mức độ rủi ro thấp nên lãi suất tái chiết khấu thường là lãi suất cho vay thấp nhất của NHTW. Vì vậy NHTW thường xác định một hạn mức tái chiết khấu và đưa ra các điều kiện cụ thể đối với các chứng từ có giá được phép tái chiết khấu tại NHTW.
Hạn mức tái chiết khấu: là mức dư nợ tối đa mà NHTW chấp nhận trong việc cấp tín dụng cho các NHTM. Hạn mức tái chiết khấu được xác định trên cơ sở dự tính:
- mức tăng trưởng cơ số tiền MB.
- mức thay đổi của tài sản có ngoại tệ ròng.
- những thay đổi của tình trạng Ngân sách Nhà nước ảnh hưởng đến khoản mục tạm ứng cho ngân sách ròng nhằm đảm bảo mức tín dụng cung ứng cho các NHTM nằm trong giới hạn mức tăng trưởng khối tiền cơ sở.
Hạn mức tái chiết khấu được tính hàng năm và chia ra từng quý. Việc phân bổ hạn mức tín dụng phụ thuộc vào quy mô hoạt động của từng ngân hàng cũng như tỷ trọng khoản mục dư nợ tín dụng trên tổng tài sản có và được thông báo cho các ngân hàng hàng quý.
Điều kiện các loại giấy tờ có giá được chấp nhận:
- Tín phiếu kho bạc, tín phiếu ngân hàng nhà nước và các loại giấy tờ có giá khác do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ.
- Phát hành bằng đồng Việt Nam và có thể chuyển nhượng được.
- Thời hạn còn lại tối đa là 90 ngày trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước chiết khấu, tái chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá.
- Thời hạn còn lại của giấy tờ có giá phải dài hơn thời hạn Ngân hàng nhà nước chiết khấu, tái chiết khấu trong trường hợp chiết khấu, tái chiết khấu có kỳ hạn.
Lãi suất tái chiết khấu:
Lãi suất tái chiết khấu do NHTW xác định căn cứ vào yêu cầu thực hiện CSTT, có tham khảo sự biến động của một số loại lãi suất ngắn hạn cùng kỳ hạn như: lãi suất đấu thầu tín phiếu kho bạc phiên gần nhất, lãi suất thị trường liên ngân hàng và nhu cầu tín dụng của hệ thống các TCTD.
Phương thức giao dịch:
Trong trường hợp cần thiết và theo yêu cầu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ, NHTW có thể thực hiện chiết khấu hẳn thời hạn còn lại của chứng từ có giá hoặc chiết khấu có kỳ hạn kèm theo hợp đồng bán lại.
Giá giao dịch (St) trong quan hệ tái chiết khấu được xác định dựa trên các yếu tố sau đây:
+ Mệnh giá của chứng từ có giá (Gt).
+ Thời hạn còn lại của chứng từ có giá (Tc).
+ Lãi suất tái chiết khấu được NHTW xác định và công bố (Lsc).
+ Hoa hồng chiết khấu và thuế (nếu có) cũng được quy định cho từng loại. Số tiền thanh toán khi thực hiện nghiệp vụ chiết khấu được xác định như sau:

St =
(365 – Số ngày quy ước cho một năm)

Khi thực hiện chiết khấu có kỳ hạn giấy tờ có giá ngắn hạn, số tiền NHTW bán lại được xác định như sau:

Gbl = St.

Trong đó: Gbl: là giá bán lại.
St: là số tiền NHTW thanh toán khi chiết khấu giấy tờ có giá ngắn hạn.
Ls: là lãi suất trúng thầu phiên gần nhất.
Tm: là thời gian NHTW chiết khấu giấy tờ có giá ngắn hạn.
b/Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố các chứng từ có giá:
Khi có nhu cầu vay vốn, các TCTD có thể sử dụng các chứng từ có giá để cầm cố làm đảm bảo cho khoản vay được yêu cầu tại NHTW. Khi tái cấp vốn theo hình thức này, giá trị tiền vay được xác định theo một tỷ lệ phần trăm tính trên giá trị chứng từ có giá làm đảm bảo. Tỷ lệ này thay đổi tùy thuộc vào mức độ rủi ro của chứng từ có giá theo đánh giá của NHTW.
- Điều kiện chứng từ có giá được chấp nhận:
+ Ngân hàng xin vay là người thụ hưởng hay nắm giữ hợp pháp.
+ Giấy tờ có giá là Tín phiếu Kho bạc Nhà nước hoặc Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước.
+ Được giao dịch, được thanh toán cho Ngân hàng Nhà nước với tư cách là người thứ ba theo quy định.
+ Trường hợp giấy tờ có giá được phát hành theo hình thức ghi sổ phải có xác nhận và đảm bảo của tổ chức có trách nhiệm thanh toán đối với giấy tờ có giá về việc sẽ thanh toán cho Ngân hàng Nhà nước khi ngân hàng xin vay có nợ đến hạn nhưng chưa thanh toán.
- Lãi suất cho vay:
Lãi suất hình thức cho vay cầm cố thế chấp thường được NHTW quy định cao hơn lãi suất thị trường liên ngân hàng và biến động căn cứ vào mục tiêu chính sách tiền tệ.
- Quy trình, thủ tục cho vay:
Yêu cầu của loại cho vay này là các TCTD phải có uy tín với NHTW, có tình hình tài chính lành mạnh, không có nợ quá hạn quá lớn, khả năng rủi ro thấp; các chứng từ được sử dụng làm đảm bảo cho khoản vay phải đạt các tiêu chuẩn: hợp pháp, hợp lệ, được phép giao dịch đảm bảo; người nhận nợ có khả năng tài chính tốt; thời hạn đáo hạn của chứng từ lớn hơn thời hạn xin vay của TCTD.
NHTW thực hiện các nghiệp vụ cho vay khi tổ chức vay có nhu cầu vay và có đề nghị vay sau khi gửi NHTW các giấy tờ sau:
+ Đơn xin vay với các nội dung cơ bản như tên, địa chỉ của tổ chức vay; số tiền vay; mục đích vay; cam kết về đảm bảo tiền vay, sử dụng tiền vay, trả nợ, trả lãi và các cam kết khác.
+ Các tài liệu liên quan đến điều kiện vay vốn của tổ chức vay.
+ Bảng kê chứng từ kèm theo các chứng từ đề nghị cầm cố đẻ vay vốn.
Trên cơ sở thủ tục nhận nợ, tổ chức vay vốn chủ động trả nợ cho NHTW.

IV/ Những kết quả đạt được và những hạn chế
1/ Thực tế, thời gian qua, công cụ tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã đạt được những kết quả đáng khích lệ như:
Thứ nhất, công cụ tái cấp vốn mà nòng cốt là việc xây dựng và điều hành khung lãi suất thời gian qua đã dần hình thành khung lãi suất định hướng lãi suất thị trường theo hướng lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh dần thành lãi suất trần, lãi suất chiết khấu điều chỉnh thành lãi suất sàn. Cặp lãi suất tái cấp vốn được giữ khá ổn định và được điều chỉnh tương ứng với sự biến động của lãi suất thị trường trong từng thời kỳ.
Thứ hai, hoạt động tái cấp vốn của NHNN đã đóng góp không nhỏ trong việc đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh khoản của các ngân hàng thương mại, góp phần ổn định hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại trong những năm vừa qua. Thông thường, vào các thời điểm cuối năm và gần Tết Nguyên đán thường xảy ra tình trạng thiếu hụt nguồn vốn thanh toán của các ngân hàng thương mại do nhu cầu rút tiền của khách hàng, có những ngày lên tới hàng ngàn tỷ đồng. Đặc biệt, sự thiếu hụt này thường mang tính hệ thống, do vậy, bất cứ một khâu nào gặp ách tắc sẽ kéo theo hàng loạt các sự cố tiếp theo. Do vậy, hoạt động tái cấp vốn của NHNN đã góp phần hỗ trợ các tổ chức tín dụng đảm bảo khả năng thanh toán, qua đó, duy trì sự ổn định của thị trường tiền tệ. Đồng thời, hoạt động tái cấp vốn còn có vai trò trong việc hỗ trợ vốn ngắn hạn, các nhu cầu bất thường xảy ra nhằm hỗ trợ các ngân hàng đảm bảo khả năng thanh toán. Trường hợp ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Á Châu vào tháng 10/2003 và NHTMCP nông thôn Ninh Bình (nay là NHTMCP Dầu khí toàn cầu) là ví dụ điển hình. Trước những tin đồn thất thiệt, khách hàng của ngân hàng đã ồ ạt đến rút tiền trước hạn, bất ngờ trước phản ứng mang tính dây chuyền của khách hàng, ngân hàng rơi vào tình trạng bị động trong cân đối nguồn vốn đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng. Tuy nhiên, với vai trò là ngân hàng của các ngân hàng, NHNN đã kịp thời hỗ trợ khả năng thanh toán cho 2 ngân hàng dưới hình thức cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá.
Thứ ba, so với trước đây, thời gian xử lý đề nghị xin vay cầm cố đã được rút ngắn chỉ còn 2 ngày (trước đây thường 3 đến 4 ngày).
Thứ tư, chủng loại giấy tờ có giá chấp thuận sử dụng trong quan hệ vay vốn với NHNN ngày càng được mở rộng, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng thương mại trong quan hệ vay vốn với NHNN.

2/ Bên cạnh những ưu điểm như trên, chính sách tái cấp vốn của NHNN cũng còn có những hạn chế như:
Thứ nhất, lãi suất tái cấp vốn chưa thực sự phản ánh đúng cung – cầu vốn trên thị trường tiền tệ do lãi suất tái cấp vốn được quy định một cách cứng nhắc và tách xa với lãi suất thị trường, những thay đổi lãi suất tái cấp vốn chỉ nhằm làm cho nó phù hợp với lãi suất thị trường chứ không có tác động điều tiết. Mặc dù NHNN đã có những thành công bước đầu trong việc thiết kế kiểm soát lãi suất thị trường theo mô hình khung lãi suất với lãi suất sàn là lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn là lãi suất trần nhưng NHNN còn chưa chủ động trong điều tiết mặt bằng lãi suất thị trường tiền tệ, do vậy, khung lãi suất chưa thực hiện được vai trò hướng dẫn sự biến động lãi suất thị trường.
Thứ hai, hoạt động tái cấp vốn mới chỉ dừng lại ở mục đích bổ sung nguồn vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các tổ chức tín dụng, các chức năng nhằm điều chỉnh các điều kiện tiền tệ theo mục tiêu chính sách tiền tệ, điều chỉnh quá trình phát triển kinh tế về quy mô và cơ cấu đầu tư dựa trên sự cấp vốn theo thời gian, theo lĩnh vực ngành kinh tế, theo từng vùng lãnh thổ chưa được phát huy.
Thứ ba, quy trình thủ tục tái cấp vốn chưa đồng bộ và còn những hạn chế nhất định khiến cho nghiệp vụ tái cấp vốn chưa phát huy được hiệu quả:
+ Việc phân bổ hạn mức chiết khấu trong hình thức chiết khấu giấy tờ có giá của NHNN với các ngân hàng mới chỉ dựa trên các yếu tố như tổng dư nợ bằng đồng Việt Nam, tổng tài sản Có và vốn tự có của ngân hàng mà chưa tính tới khối lượng giấy tờ có giá mà các ngân hàng nắm giữ.
+ Đối với đề nghị vay vốn của các ngân hàng có trụ sở chính tại Hà Nội thì thời gian thực hiện từ khi nhận đủ hồ sơ đến khi vay vốn thường không quá 2 ngày làm việc, nhưng đối với các ngân hàng không có trụ sở chính tại Hà Nội thì thời gian này thường bị kéo dài ra, có khi lên tới 5 ngày làm việc.

3/ Các giải pháp để hoàn thiện chính sách tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Một là, điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn phù hợp với quan hệ cung cầu vốn trên thị trường tiền tệ: Trong những năm trước mắt, với điều kiện thị trường tiền tệ ở Việt Nam như hiện nay thì lãi suất tái cấp vốn được lựa chọn là lãi suất trần và chiết khấu là lãi suất sàn trên thị trường. Cùng với khung lãi suất này, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở được NHNN sử dụng để định hướng lãi suất thị trường. NHNN sẽ quy định và công bố lãi suất tái cấp vốn, chiết khấu theo mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Những điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu của NHNN cần phải linh hoạt hơn trên cơ sở bám sát diễn biến thị trường.
Hai là, mở rộng danh mục các loại giấy tờ có giá được sử dụng trong các giao dịch tái cấp vốn. Có thể tiến tới chấp nhận trái phiếu công ty của một ngành, lĩnh vực kinh tế mũi nhọn hoặc giấy tờ có giá do các tổ chức tín dụng phát hành có chất lượng cao, do một tổ chức có uy tín xếp hạng, được chiết khấu trong hình thức chiết khấu giấy tờ có giá của NHNN với các ngân hàng thương mại.
Ba là, hoàn thiện quy trình thủ tục tái cấp vốn:
+ Thống nhất đầu mối phê duyệt đề nghị NHNN tái cấp vốn đối với các ngân hàng tại NHNN về một Vụ chức năng vì hiện nay, Vụ Tín dụng đang xem xét, phê duyệt đề nghị hình thức cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá, trái phiếu đặc biệt và phân bổ hạn mức chiết khấu và Sở Giao dịch NHNN là đơn vị xem xét đề nghị chiết khấu, tái chiết khấu của các ngân hàng. Việc xử lý các đề nghị chiết khấu nên tập trung về Vụ Tín dụng để đảm bảo tính thống nhất, tránh phân tán.
+ Khi điều kiện cơ sở hạ tầng cho phép, NHNN nên tính tới việc thực hiện tái cấp vốn qua mạng thông tin nhằm giảm bớt thời gian luân chuyển chứng từ xét duyệt.
Bốn là, tăng cường áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro đối với giấy tờ có giá sử dụng trong công cụ tái cấp vốn.
(1) Nguồn: Theo Quyết định 1452/2003/QĐ-NHNN ngày 3/11/2003 về việc ban hành quy chế cho vay có đảm bảo bằng cầm cố giấy tờ có giá của NHNN Việt Nam với các ngân hàng; Quyết định 94/2004/QĐ-NHNN ngày 20/1/2004 về việc sửa đổi một số điều của quy chế cho vay có đảm bảo bằng cầm cố giấy tờ có giá của NHNN Việt Nam với các ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định 1452/2003-QĐ-NHNN của NHNN ngày 3/11/2003; Quyết định 898/2003/QĐ-NHNN ngày 12/8/2003 về ban hành quy chế chiết khấu và tái chiết khấu của NHNN đối với các ngân hàng; Quyết định 1909/QĐ-NHNN ngày 30/12/2005 về việc các TCTD sử dụng một số loại trái phiếu trong các giao dịch tái cấp vốn của NHNN.

Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ nghiên cứu kinh tế

QUYếT địNH:

Điều 1. - Nay điều chỉnh mức lãi suất tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước đối với các Ngân hàng Thương mại và Ngân hàng Đầu tư và phát triển là 95 %. Riêng đối với Ngân hàng Nông nghiệp là 85%.
Tỷ lệ tái cấp vốn được tính trên lãi suất của dự án xin tái cấp vốn. Đối với những trường hợp đặc biệt theo chỉ định, Thống đốc sẽ có quyết định riêng.
Tổng Công ty vàng bạc đá quý cho vay theo hình thức bổ xung vốn lưu động áp dụng mức: 1,6 % tháng.

Điều 2.- Mức lãi suất quy định tại Điều 1 Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-4-1994 thay cho quy định về lãi xuất tái chiết khấu tại điểm 2 Điều 1 của Quyết định số 187-QĐ/NH1 ngày 30-9-1993.
Các loại lãi suất khác giữa Ngân hàng Nhà nước với các Tổ chức Tín dụng và Kho bạc Nhà nước vẫn áp dụng như quy định tại Quyết định số 187-QĐ/NH1 ngày 30-9-1993 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước.
Riêng tiền gửi dự trữ bắt buộc của các Ngân hàng Thương mại vượt mức quy định của Thống đốc hưởng lãi suất gấp 2 lần lãi suất tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức tín dụng ở Ngân hàng Nhà nước theo quy định hiện hành (Quyết định số 187-QĐ/NH1 ngày 30-9-1993).

Điều 3. - Tổng Giám đốc, Giám đốc các Ngân hàng Thương mại, Ngân hàng Đầu tư và phát triển, Tổng Công ty vàng bạc đá quý, Giám đốc Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước Trung ương, Giám đốc các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

callme
19-05-2010, 10:06 AM
Cám ơn bạn đã có công post bài này:haha: Khá hay!!!